Không biết nơi cư trú, nơi hoạt động của bị đơn, có khởi kiện được không?

Thứ năm - 11/11/2021 23:47
Hiện nay, do nhu cầu giao dịch dân sự của người dân ngày càng tăng, các bên thực hiện giao dịch dân sự chủ yếu dựa vào uy tín, lĩnh vực chuyên môn của đối phương, khi phát sinh mâu thuẫn, tranh chấp, bên có quyền khởi kiện vụ án yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án, tuy nhiên đối phương không còn sinh sống, cư trú, hoạt động tại địa chỉ như trước. Vậy, việc bị đơn không còn trú tại địa điểm thường trú, địa chỉ trụ sở, nguyên đơn có thể khởi kiện vụ án được không?

Theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định Thẩm phám sẽ trả lại Đơn khởi kiện trong trường hợp người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán.

"Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không cơ nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che dấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tính giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung"

Việc ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được hướng dẫn như sau:

Tại điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án quy định “Địa chỉ cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 được xác định như sau: Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vẫn còn quốc tịch Việt Nam trở về Việt Nam sinh sống thì nơi cư trú của họ là địa chỉ chỗ ở hợp pháp mà người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thường trú hoặc tạm trú hoặc đang sinh sống theo quy định của Luật cư trú”.

Người khởi kiện đã cung cấp địa chỉ “nơi cư trú, làm việc, hoặc nơi có trụ sở” của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho Toà án theo đúng quy định của pháp luật và hướng dẫn tại khoản 1 Điều này tại thời điểm nộp đơn khởi kiện mà được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp, xác nhận hoặc có căn cứ khác chứng minh rằng đó là địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì được coi là đã ghi đúng địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP).

Trường hợp trong đơn khởi kiện người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo hướng dẫn tại Điều 5 Nghị quyết này thì Toà án phải nhận đơn khởi kiện và xem xét thụ lý vụ án theo thủ tục chung.

Theo đó, trường hợp sau khi thụ lý vụ án, Toà án không tống đạt được thông báo về việc thụ lý vụ án do bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không còn cư trú, làm việc hoặc không có trụ sở tại địa chỉ mà nguyên đơn cung cấp thì Toà án giải quyết như sau: “Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi cư trú có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo địa chỉ được ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản thì được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở”. Trường hợp người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật dân sự năm 2015 thì được coi là cố tính giấu địa chỉ và Toà án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không đình chỉ việc giải quyết vụ án vì lý do không tống đạt được cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” (điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP).
Ngoài các trường hợp quy định trên, Tòa án yêu cầu Nguyên đơn cung cấp địa chỉ mới của bị đơn mà nguyên đơn không có khả năng cung cấp thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Tòa án thu thập, xác minh địa chỉ mới của bị đơn theo quy định của pháp luật. 

Như vậy, để khởi kiện một vụ án, nguyên đơn phải ghi đúng địa chỉ của người bị kiện, đồng thời, cung cấp các tài liệu, chứng cứ chứng minh địa chỉ này là của người bị kiện nhằm đáp ứng điều kiện thụ lý vụ án của Tòa án.Trường hợp sau khi vụ án đã được Toà án thụ lý mà Toà án vẫn không gửi được văn bản cho bị đơn, thì Tòa án vẫn giải quyết vụ án theo quy định pháp luật. 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây